Lefamulin là một kháng sinh mới thuộc nhóm pleuromutilin bán tổng hợp. Thuốc được FDA phê duyệt vào năm 2019 và được Ủy ban Châu Âu chấp thuận vào năm 2020. Đây là kháng sinh pleuromutilin đầu tiên có cả dạng uống và truyền tĩnh mạch, được sử dụng để điều trị nhiễm khuẩn toàn thân ở người.

Hình 1. Công thức cấu tạo của lefamulin
Lefamulin ức chế quá trình tổng hợp protein của vi khuẩn bằng cách gắn vào trung tâm peptidyl transferase trên tiểu đơn vị 50S của ribosome. Lõi ba vòng và chuỗi nhánh C14 của thuốc tương tác với các vị trí A và P trên ribosome thông qua liên kết hydro và tương tác kỵ nước. Sự gắn kết này làm thay đổi vị trí của tRNA, cản trở quá trình hình thành liên kết peptid và khiến chuỗi polypeptid không thể tiếp tục kéo dài.

Hình 2. Cơ chế tác động của lefamulin
(Nguồn: https://www.researchgate.net/figure/Binding-of-Lefamulin-with-protein-peptidyl-transferase-as-promising-inhibitor-of-protein_fig2_361805898)
3. Cơ chế đề kháng lefamulin của vi khuẩn
Nhờ cơ chế tác động đặc hiệu, lefamulin ít xảy ra kháng chéo với tetracyclin, macrolid, fluoroquinolon và beta-lactam. Tuy nhiên, các gen bảo vệ ribosome có thể gây kháng chéo với lincosamid, streptogramin và oxazolidinon. Hiện tỷ lệ kháng lefamulin còn thấp, nhưng vẫn cần tiếp tục giám sát khi thuốc được sử dụng rộng rãi hơn.
Lefamulin có phổ tác dụng rộng trên các tác nhân thường gây nhiễm trùng đường hô hấp, đặc biệt là vi khuẩn Gram dương, một số vi khuẩn Gram âm và các vi khuẩn không điển hình.
Tuy nhiên, lefamulin không có tác dụng đáng kể trên Pseudomonas aeruginosa, Acinetobacter baumannii, các Enterobacterales như Escherichia coli và Klebsiella pneumoniae, cũng như phần lớn vi khuẩn kỵ khí.
Lefamulin được chỉ định điều trị viêm phổi mắc phải tại cộng đồng do vi khuẩn ở người lớn.
Lefamulin còn được nghiên cứu trong điều trị nhiễm trùng da và cấu trúc da cấp tính; bệnh lây truyền qua đường tình dục như bệnh lậu và nhiễm Mycoplasma genitalium.
Lefamulin có cả dạng truyền tĩnh mạch và dạng uống. Liều tĩnh mạch khuyến cáo là 150 mg mỗi 12 giờ, truyền chậm trong khoảng 1 giờ. Với đường uống, liều dùng là 600 mg mỗi 12 giờ. Để tăng khả năng hấp thu, thuốc nên được uống trước bữa ăn ít nhất 1 giờ hoặc sau ăn ít nhất 2 giờ. Thời gian điều trị thường kéo dài từ 5 đến 10 ngày, tùy theo mức độ nhiễm trùng, đáp ứng lâm sàng và kết quả vi sinh. Suy gan: giảm liều tiêm tĩnh mạch xuống 150 mg mỗi 24 giờ đối với bệnh nhân suy gan nặng theo phân loại Child-Pugh (suy gan nặng), liều uống cho suy gan hiện chưa được nghiên cứu. Suy thận: không cần hiệu chỉnh liều.
Trong các thử nghiệm LEAP, tỷ lệ ngừng thuốc do tác dụng không mong muốn chỉ khoảng 2,9-3,3%, cho thấy lefamulin có độ an toàn và khả năng dung nạp tương đối tốt.
Lefamulin là kháng sinh pleuromutilin mới, được chứng minh hiệu quả trong điều trị viêm phổi mắc phải tại cộng đồng. Lefamulin là lựa chọn thay thế cho fluoroquinolon ở những bệnh nhân dị ứng, không dung nạp hoặc cần hạn chế nguy cơ kháng thuốc.
Cơ chế tác động đặc hiệu và phổ kháng khuẩn tập trung vào các tác nhân hô hấp giúp lefamulin ít ảnh hưởng đến một số vi khuẩn đường ruột như Enterobacterales, đồng thời tránh được một số rủi ro thường gặp của fluoroquinolon.
Tuy nhiên, dữ liệu sử dụng thực tế sau khi thuốc được phê duyệt vẫn còn hạn chế. Cần thêm nghiên cứu để đánh giá hiệu quả và độ an toàn trong các chỉ định ngoài nhãn như nhiễm trùng da và bệnh lây truyền qua đường tình dục.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Covvey, J. R., & Guarascio, A. J. (2022). Clinical use of lefamulin: A first-in-class semisynthetic pleuromutilin antibiotic. Journal of internal medicine, 291(1), 51–63. https://doi.org/10.1111/joim.13378
Falagas, M. E., Fanariotis, G., Romanos, L. T., Katsikas, K. M., & Kakoullis, S. A. (2026). Resistance to Lefamulin: An Evaluation of Data from In Vitro Antimicrobial Susceptibility Studies. Antibiotics, 15(1), 58. https://doi.org/10.3390/antibiotics15010058
ThS. Kim Ngọc Sơn
ThS. Nguyễn Thanh Tâm